Kỳ 3: Truyền và tương tác của các gói tin Ethernet với Sampled Values trong các mạng truyền thông Trạm biến áp
Tác giả: Fred Steinhauser, OMICRON electronics, Cộng hòa Áo
Tóm tắt
Các giao thức khác nhau đưa ra bởi IEC 61850 có thể truyền qua một mạng truyền thông chung để gửi các kiểu thông tin khác nhau từ nhiều nguồn tới nhiều đích thay vì sử dụng kết nối điểm – điểm (point – to – point). Do đó lưu lượng thông tin lớn trong mạng luôn là điều đáng lo ngại, đặc biệt khi nhiều phần tử trong hệ thống tự động hóa trạm biến áp gửi đi dữ liệu khi có một sự cố trong hệ thống điện. Nhiều vấn đề bắt nguồn từ việc nghẽn hay cách xử lý thông tin trên mạng xảy ra ở thời kỳ đầu của Ethernet, mà ngày nay không còn là vấn đề lớn với các switch Ethernet. Miễn là chỉ có thông tin client/ server và GOOSE trên mạng, sẽ không có thách thức thực sự vì lưu lượng thông tin là tương đối nhỏ. Tuy nhiên, khi có truyền tin Sampled Values, các gói tốc độ cao và lưu lượng mạng diễn ra liên tục. Thông tin thời gian thực phải đến đích nhận đúng thời điểm. Độ trễ (delay) và độ lệch (jitter) trở thành vấn đề. Bài báo này đề cập các trường hợp khi Sampled Values liên quan đến truyền tin và làm rõ các vấn đề chính xảy ra. Đồng thời diễn giải các hiện tượng này có thể lường trước được, ở mức độ nào đó, và cách thức kiểm tra các dự đoán này bằng các phép đo. Việc kiểm tra này hữu ích khi thiết kế mạng truyền thông trạm biến áp (Power Utility Communication – PUC) và để kiểm tra hiệu năng của nó.
1. Hệ thống kỹ thuật số hoàn toàn (Fully Digital System)
Thuật ngữ hệ thống bảo vệ, tự động hóa và điều khiển trạm biến áp kỹ thuật số hoàn toàn (fully digital) là hệ thống khi lắp đặt vận hành ứng dụng tất cả các kiểu truyền thông tin định nghĩa trong IEC 61850, ví dụ như truyền thông client/ server, GOOSE và Sampled Values.
Hình 1: Mạng truyền thông trạm biến áp với các bus chuyên dụng: station bus và process bus
2. Các điểm giao thoa
Bộ phận quản lý việc chuyển tiếp các gói tin trong mạng truyền thông nội bộ là các bộ chuyển mạch mạng Ethernet switch. Mỗi IED có một kết nối riêng được gọi là edge port tới một switch. Giữa các switch, các kết nối được thiết lập được gọi là trunk link, nối tới các trunk port. Các IED có thể gửi dữ liệu tới switch tại các thời điểm bất kỳ. Switch có nhiệm vụ chuyển tiếp các gói tin, tới một IED khác nối tới cùng switch, hoặc tới switch khác theo liên kết trunk link. Khi nhiều gói tin đến từ các IED khác nhau tại cùng một thời điểm, hoặc gần như cùng thời điểm, và cần được chuyển tiếp qua trunk link, switch phải lập lịch chuyển tiếp cho các gói tin, vì các gói tin không thể đi qua trunk link song song, mà phải tuần tự.
Hình 2: Dữ liệu từ các nguồn khác nhau giao thoa khi chuyển tiếp qua một trunk link
3. Thử nghiệm để đánh giá

Hình 3: Lắp đặt thử nghiệm hệ thống
3.1 Kiểm chứng trên lý thuyết
Lắp đặt hệ thống thử nghiệm được tối thiểu hóa, tất cả dữ liệu truyền trên mạng đã biết và các thông số được kiểm soát. Nhiễu duy nhất tồn tại trên mạng truyền thông là các bản tin quản trị gây ra lưu lượng không đáng kể. Trong một môi trường mạng đã biết trước, có thể đánh giá ảnh hưởng của việc giao thoa dữ liệu biết trước, đem lại một số dấu hiệu về kết quả kỳ vọng của phép đo. Do đó, tính hợp lý của phương pháp đo có thể chấp nhận được. Bản tin ICMP có kích cỡ dung lượng sp. Với tốc độ kết nối cho trước nl, mỗi gói tin giữ kết nối trong một khoảng thời gian tp = sp / nl (1) Khi gói tin được tạo ra với tần số fp, nó giữ một phần p của tổng lượng băng thông là: p = fp * tp = fp * sp / nl (2) Cũng có khả năng khi một gói tin Sampled Values xung đột với một gói tin ICMP khi được gửi qua trunk link. Công thức (2) chỉ ra khả năng xảy ra thêm độ trễ do giao thoa tăng tỷ lệ với kích cỡ và tần số của các gói tin ICMP, trong khi giảm nếu tăng tốc độ kết nối. Trong trường hợp xấu nhất, một gói tin Sampled Values bị trễ trong khoảng thời gian tp của các gói tin ICMP. Một phần của (1-p) các gói tin sẽ không bị ảnh hưởng và sẽ đi qua nếu không có lưu lượng thông tin nào. Các gói tin khác sẽ bị trễ bởi một phần của tp, với chỉ một số gói tin bị trễ thêm thời gian lớn nhất là tp. Các gói tin Sampled Values bị ảnh hưởng sẽ gặp ngẫu nhiên các gói tin ICMP ở các trạng thái khác nhau trong quá trình gửi với xác suất như nhau, vì vậy có thể kỳ vọng phân bố đồng nhất của các độ trễ được kiểm tra. Trong ví dụ lắp đặt thử nghiệm, tất cả các kết nối Ethernet, cũng như trunk link, thực hiện ở tốc độ nl = 100 Mbit/s. Các gói tin ICMP sẽ được gửi đi với tần suất trong dải khoảng 1000 gói tin mỗi giây, giới hạn bởi khả năng của nguồn ping đạt được tại một kích cỡ gói tin nhất định. Với các giá trị hiện tại áp dụng trong thử nghiệm, các con số trong Bảng 1 được áp dụng.| Kích cỡ gói tin ICMP | Thời gian kết nối gói tin tp | Tần số gửi fp | Khả năng p (xảy ra giao thoa) |
| 500 bytes (4000 bits) | 40 μs | 1000 s-1 | 4 % |
| 1538 bytes (12304 bits) | 123 μs | 885 s-1 | 10.9 % |
Bảng 1: Đặc tính lưu lượng thông tin
Kích cỡ gói tin trong bảng trên tương ứng với thực tế khoảng cách bắt đầu gửi tin (start-to-start) của 2 gói tin nối tiếp liên tục trên kết nối Ethernet và bao gồm cả phần preamble (mở đầu), checksum (kiểm tra lỗi), và inter-frame gap (khoảng trống giữa các gói tin), vốn không được đếm nhưng vẫn chiếm giữ thời gian kết nối. Giá trị 1538 bytes ở dòng dưới tương ứng với gói tin Ethernet kích cỡ lớn nhất không được gán VLAN; nếu gán VLAN, gói tin sẽ lớn thêm 4 byte.3.2 Đo và đánh giá
Bây giờ thời gian trễ của các gói tin Sampled Values sẽ được đo dưới các điều kiện lưu lượng thông tin khác nhau. Việc này thực hiện với số lượng lớn các phép đo riêng rẽ và đánh giá phân bố của thời gian trễ. Việc đánh giá được thực hiện với 10,000 phép đo đơn lẻ, để có số liệu thống kê ổn định. Với 4000 gói tin Sampled Values một giây [6], lưu lượng thông tin sẽ được chụp lại chỉ trong 2.5 giây. Một điều kiện là các gói tin Sampled Values giao thoa với các gói tin ICMP ngẫu nhiên, nghĩa là tần suất gửi bản tin ICMP không được tương ứng với tần suất gửi bản tin Sampled Values. Do không có đồng bộ thời gian giữa các thiết bị và nguồn phát các gói tin ICMP là một máy tính PC với đặc tính thời gian bình thường điển hình, thời gian không hoàn toàn chính xác nên độ lệch (jitter) đủ để đảm bảo mức độ ngẫu nhiên yêu cầu.
Hình 4: Phân bố thời gian trễ không tải (không có lưu lượng thông tin)

Hình 5: Phân bố thời gian trễ với các gói tin ICMP (500 byte) như lưu lượng thông tin trên mạng.

Hình 6: Phân bố thời gian trễ với các gói tin ICMP (1538 bytes) như lưu lượng trên mạng
Kết luận
Hoạt động của mạng truyền thông trạm biến áp không gặp thử thách khi chỉ có lưu lượng client/ server và GOOSE. Nhưng khi gói tin Sampled Values tham gia vào mạng, cần xem xét đến chi tiết hơn, đặc biệt khi các lưu lượng thông tin khác có thể giao thoa với Sampled Values. Việc giao thoa đã giải thích ở trên có thể dẫn đến độ lệch thời gian đáng kể. Khi những giao thoa kiểu này xảy ra lặp lại trong mạng, độ lệch có thể trở thành quá lớn khiến các gói tin Sampled Values tuần tự có thể bắt gặp các gói tin trước nó. Có thể đánh giá được hiệu ứng giao thoa các gói tin Ethernet trong mạng bằng cách kiểm tra độ trễ các gói tin. Các giá trị kỳ vọng theo thiết kế có thể được xác nhận bởi các phép đo chính xác. Nói cách khác, có thể phát hiện vấn đề của các phần tử trong mạng khi đo và so sánh kết quả với thông số thiết kế. Ngày nay với các thiết bị hiện đại, các phép đo này khả thi không chỉ với các chuyên gia về truyền thông mà cả các kỹ sư điện lực, những người làm việc với các mạng truyền thông với yêu cầu nghiêm ngặt trên các phần tử của hệ thống bảo vệ, tự động hóa và điều khiển.Biên dịch
Trần Quang Minh ENTEC A&TTài liệu tham khảo
- [1] Steinhauser, F., Interaction of Ethernet Traffic in Power Utility Communication Networks. PACWorld conference 2013, Dublin
- [2] Ingram, D., et. al.: Direct Evaluation of IEC 61850-9-2 Process Bus Network Performance. IEEE Transactions on Smart Grid, Vol. 3, No. 4, December 2012
- [3] IEC 61850-90-4: Communication Networks and Systems for Power Utility Automation. Part 90-4: Network Engineering Guidelines, Technical Report, 2012
- [4] Steinhauser, F.: Measuring the Performance of GOOSE Communication – Assessing IEC 61850 Real Time Messaging, CIGRÉ SEAPAC 2011, Sydney
- [5] Steinhauser, F., Schossig, T.: Coexistence of SCADACommunication and Process-Level Real-Time-Communication in Substation Networks. PACWorld conference 2010, Dublin
- [6] UCA International User Group: Implementation Guideline For Digital Interface to Instrument Transformers Using IEC 61850-9-2
